Thứ năm, ngày 09 tháng 09 năm 2010.
 
Tiếng Việt | English
Tổng quan Ban tổ chức Hội thảo - Hội thi Nhật ký Festival Đất & Người Hậu Giang Bên lề Festival Dịch vụ Nhà tài trợ Thư viện
Hội thảo ”Kinh Xánh Xà No - con đường lúa gạo miền Hậu Giang”

Báo cáo đề dẫn Kinh Xáng Xà No con đường lúa gạo miền Hậu Giang


Miền Hậu Giang - theo các tư liệu xưa, đó là một dãy đất đồng bằng mênh mông ở về phía hữu ngạn con Sông Hậu, chạy dài đến chót mũi Cà Mau. Với diện tích khoảng 2 triệu ha, chiếm 1/3 toàn Nam Kỳ, Miền Hậu Giang có thể chia làm 2 khu vực địa lý:

- Một là dãy đất phù sa cao ráo từ Châu Đốc đến Long Xuyên và phần lớn địa hạt Cần Thơ cùng với Sóc Trăng.

- Hai là dãy đất trũng, phèn, mặn ảnh hưởng thủy triều vùng biển Xiêm La, thuộc phần đất Rạch Giá, một phần Cần Thơ và phần lớn diện tích vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu và bán đảo Cà Mau. Tỉnh Hậu Giang nằm trong địa bàn này.

Gọi miền Hậu Giang- có lẽ do thời xưa khi công cuộc mở mang, khai phá mang lại hiệu quả, đời sống kinh tế- xã hội phát triển nhanh chóng đã tạo nên một dấu ấn đặc biệt, khiến cho giá trị vùng đất- con người miền Hậu Giang được khẳng định, lâu dần trở thành địa danh dân gian quen thuộc. Ngay tại Sài Gòn, đã có một đường phố lớn tại Quận 6 mang tên “Hậu Giang”, tồn tại hơn nửa thế kỷ qua.

Ngày nay, cụm từ Miền Hậu Giang chỉ còn trong ký ức lớp người cao tuổi. Từ bối cảnh mới, tình hình mới về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,.. Các nhà hoạch định chiến lược đã dịch chuyển từ khái niệm “Miền Hậu Giang” thành “Tây Sông Hậu”, vẫn trên khung nền địa lý trước đây. Đặc biệt những năm qua, trong các quy hoạch kinh tế- xã hội khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đã xuất hiện một khái niệm chỉ về một địa bàn mới: “Tiểu vùng Tây Sông Hậu”, bao gồm phần đất hữu ngạn sông Hậu và một phần các tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau. Tỉnh Hậu Giang được xem như một trung tâm của Tiểu vùng, bởi vị trí địa lý chính giữa, cũng là địa bàn ôm gọn con kinh xáng Xà No, một công trình thủy nông và thủy lộ chiến lược tác động đến cả tiểu vùng.

Từ thực tế trên, bàn về chủ đề “Kinh xáng Xà No- Con đường lúa gạo Miền Hậu Giang”, nhất thiết sẽ nghiên cứu đến những điểm cơ bản về lịch sử mở mang, khai phá của một vùng đất nhiều tiềm năng, ở vào một vị trí, địa lý hết sức quan trọng: Nằm giữa hai phía biển Tây và biển Đông; liền kề biên giới Campuchia và vịnh Xiêm La. Theo đó, Miền Hậu Giang đã hình thành và phát triển qua 3 thời kỳ, trước khi người Pháp đào kinh xáng Xà No.

- Thời kỳ đầu, cũng là bắt đầu cuộc Nam Tiến của các chúa Nguyễn; một người Trung Hoa tên Mạc Cửu, không thần phục nhà Thanh đã đến vùng vịnh Xiêm La làm ăn, thành lập 7 xã lấy Hà Tiên làm trung tâm. Ông đem dâng lên chúa Nguyễn phần đất này, được phong chức Tổng trấn Hà Tiên. Mạc Cửu qua đời, con là Mạc Thiên Tích nối nghiệp cha, lập nên đạo Kiên Giang, rồi tiến qua phía đông theo sông Cái Lớn, lập đạo Trấn Di năm 1737 (tức vùng Sóc Trăng) và đạo Trấn Giang năm 1739 (tức vùng Cần Thơ). Thời kỳ này, sự hưng thịnh tập trung ở trấn lỵ Hà Tiên, các tàu buôn trong và ngoài nước thường cặp cảng mua, bán sản vật, lúa gạo trong vùng. Trong lúc đó, vùng đất thuộc tỉnh Hậu Giang hôm nay dân cư mới ở rải rác, chủ yếu sinh sống bằng nghề ăn ong, săn bắt động vật rừng. Về mặt nông nghiệp hầu như chưa khai thác được gì.

- Đến thời kỳ vương triều Nguyễn thống nhất sơn hà, có chủ trương chính thức “khẩn hoang lập ấp, lập đồn điền” (khoảng giữa thế kỷ XIX) thì dãy đất biên giới đầu nguồn sông Hậu là Châu Đốc, Long Xuyên mới được khai phá một cách khẩn trương, với việc đào các con kinh quy mô: Kinh Thoại Hà đào năm 1818, nối Long Xuyên- Rạch Giá; kinh Vĩnh Tế đào năm 1819, nối Châu Đốc- Hà Tiên. Việc đào các kinh này vừa có lợi ích giao thông, mở mang nông nghiệp; vừa mang ý nghĩa chính trị- quốc phòng. Kết quả: vùng Long Xuyên- Châu Đốc nhanh chóng phát triển và có thể nói là sớm nhất Miền Hậu Giang, chỉ sau Hà Tiên. Trong khi vào lúc này, theo như sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức mô tả: “Vĩnh Định, tức Cần Thơ vẫn còn là huyện vất vả”. Vùng đất thuộc tỉnh Hậu Giang hôm nay vẫn còn là cánh đồng hoang vu, ngay chổ gần đoạn sông Ba Láng, rạch Xà No sát chợ Cái Răng, là “chỗ mờ mịt không có dấu chân người, có nhiều muỗi và đĩa, người đi thật gian khổ…” Thật vậy, khảo sát một số vùng lân cận kinh xáng Xà No, các huyện Vị Thủy, Long Mỹ và thị xã Vị Thanh hầu hết dân cư đều nói rằng, ông bà của họ có lẽ đến đây lập nghiệp sớm nhất cũng vào lúc có chủ trương khẩn hoang mở đất, tức khoảng giữa thế kỷ thứ XIX cho đến khi người Pháp đào kinh xáng Xà No.

- Thời kỳ thứ ba, là công cuộc “ qui dân lập ấp, lập đồn điền” của Triều Nguyễn bắt đầu mang lại hiệu quả. Đáng chú ý là do vùng đất hai bờ sông Tiền cơ bản khai phá xong, nên làn sóng di dân lập nghiệp đổ về hướng Cần Thơ, Rạch Giá và các địa phương lân cận. Cho đến khi người Pháp đặt chế độ cai trị (1867) thì vùng đất phía Nam sông Hậu đã có sự phát triển rỏ nét: Khoảng 100 làng được thành lập, phỏng độ vài trăm ngàn dân cư. Trong đó, Rạch Giá có 35 ngàn người. Hai mươi năm sau (1899), trước khi công cuộc khai thác lớn của người Pháp tiến hành thì con số tăng vọt: tỉnh Rạch Giá (bao gồm tỉnh Hậu Giang hôm nay) đã khai thác được 100 ngàn mẩu trên tổng diện tích chung 800 ngàn mẩu. Tỉnh Cần Thơ có diện tích chung 230 ngàn mẩu, thì đã khai thác gần phân nửa. Vùng Sóc Trăng cũng đã khai thác được 1/3 diện tích chung,…Có thể khẳng định, thành quả trên đây được mang lại từ chính sách mở đất đúng đắn của Triều Nguyễn. Bởi vậy, khi chiếm hết 3 tỉnh còn lại của Nam Kỳ, chính quyền Pháp đã xuất cảng ngay lúa gạo. Đến trước khi đào kinh xáng Xà No, mức sản xuất lúa gạo của Cần Thơ đã lên tới 116.000tấn/năm, đứng đầu toàn Nam Kỳ; kế đó là Rạch Giá. Vào lúc này, cả Nam Kỳ sản xuất được 500 ngàn tấn.

Từ một số tình hình nêu trên, theo yêu cầu hội thảo, là làm sáng tỏ về khu vực địa lý miền Hậu Giang cũng như khẳng định vị thế, tầm quan trọng của kinh xáng Xà No, nổi bật với quá trình tạo nên “Con đường lúa gạo Miền Hậu Giang”. Chúng tôi đề nghị hội thảo tập trung vào 3 nội dung chủ yếu sau đây:

- Tình hình sản xuất, xuất khẩu gạo ở miền Hậu Giang và thực thi kế hoạch đào kinh xáng Xà No.

- Kết quả mang lại từ việc đào kinh xáng Xà No, nổi bật là sự hình thành “Con đường lúa gạo” chiến lược.

- Khẳng định vị trí vị thế tính tất yếu và vai trò của kinh xáng Xà No trong sự phát triển Miền Hậu Giang xưa và Tiểu vùng Tây Sông Hậu hôm nay.

I. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, XUẤT CẢNG LÚA GẠO VÀ THỰC THI KẾ HOẠCH ĐÀO KINH XÁNG XÀ NO Ở MIỀN HẬU GIANG

Đây là nội dung mở đầu, cho thấy bối cảnh và những động cơ khiến người Pháp mạnh dạn đầu tư khai thác lớn, trên vùng đất hoang vu phía bờ Tây Sông Hậu giữa Cần Thơ- Rạch Giá.

Như đã trình bày, khi người Pháp đặt chế độ thuộc địa (1867) cũng là lúc Nam Kỳ- Miền Hậu Giang bắt đầu thu hoạch thành quả từ chủ trương “khẩn hoang, lập ấp, lập đồn điền” của Triều Nguyễn. Tính trong toàn bộ 2 triệu ha miền Hậu Giang -ngoài vùng hữu ngạn dọc theo sông Hậu Châu Đốc, Long Xuyên và Hà Tiên… cơ bản khai phá xong, phía cánh đồng rộng, lớn hoang vu giữa Cần Thơ- Rạch Giá (bao gồm tỉnh Hậu Giang và phần lớn tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau hôm nay) đã đưa vào sản xuất gần 300 ngàn mẩu, với mức sản lượng gần bằng phân nửa Nam Kỳ (200/500 ngàn mẩu). Riêng vùng Cà Mau chỉ mới khai thác được hơn 9 ngàn mẩu, nhưng đã xuất cảng được gạo bán cho các ghe buôn Hải Nam. Cũng có lý do: Dân cư miền Hậu Giang lúc này chưa đông, diện tích lại rộng lớn nên lúa gạo dư thừa. Vì vậy, đã góp phần cung ứng cho cả nước và vùng Nam Kỳ xuất cảng đến 500 ngàn tấn lúa gạo vào năm 1898.

Rõ ràng, người Pháp đã nhận ra tiềm năng, nguồn lợi dồi dào của Miền Hậu Giang, với tầm nhìn: Nơi đây mới chính là vựa lúa lớn của Đông Dương. Do đó sau khi ổn định việc cai trị, tiến hành các đợt thám sát phần đất hoang vu, chính quyền Pháp đã lên kế hoạch khá chu đáo nhằm khai thác lớn các cánh đồng mênh mông còn ngập nước, nhiễm phèn, mặn ở miền Hậu Giang, với 3 kế hoạch thực thi một cách táo bạo: Đào kinh, lập chợ phố, đắp lộ xe. Tất nhiên, việc đào kinh xem như then chốt. Thế nhưng, trước khi đào các cụm kinh qui mô, người Pháp đã đào ngay một số con kinh bằng thủ công phục vụ cho lợi ích trước mắt:

- Đào kinh Mang Thít (Trà Ôn) năm 1876, nhằm mở con đường vận chuyển lúa gạo ăn thông từ sông Hậu qua sông Tiền để lên thẳng Chợ Lớn.

- Đào kinh Xanh- Ta (Sóc Trăng) năm 1880 vừa lấy nước ngọt, xổ phèn, mặn. Đồng thời, cũng tiện đường vận chuyển lúa gạo đi các nơi.

- Đào kinh Ô Môn (1896), nối ngọn sông Cái Bé từ Rạch Giá qua để khai thác cánh đồng rộng lớn, nhưng còn hoang vu này.

Song song đó, người Pháp chuẩn bị khá kỷ lưởng kế hoạch đào kinh xáng Xà No và các cụm kinh tiếp theo là Ngã Bảy, Ngã Năm. Ngay từ năm 1893, toàn quyền Đông Dương Pall Doumer tổ chức đấu thầu tại Paris, Công ty montvenoux trúng thầu.

Từ mùa khô 1901, kế hoạch đào kinh xáng Xà No được thực thi với tốc độ khẩn trương, nhưng hết sức qui mô, hiện đại. Theo đó họ huy động với 4 chiếc xáng lớn gồm Mỹ Tho I, Mỹ Tho II, Xáng Loire, Xáng Nantes. Mỗi chiếc 350 mã lực, chạy bằng hơi nước đốt nồi súp de. Phục vụ việc đào kinh có cả ngàn kỹ sư, chuyên viên, nhân viên y tế, hậu cần và nhân công làm việc. Họ vừa ở các nhà bè xáng dòng theo; vừa ở trên bờ lo củi chụm.

Xáng bắt đầu đào tại một địa điểm giữa đoạn rạch Cần Thơ, cách chợ Phong Điền 3 cây số, thuộc địa bàn xã Nhơn Nghĩa, sau này người ta gọi là Vàm Xáng. Do việc đào kinh phải thẳng đến phía Hỏa Lựu (Vị Thanh) nên xáng múc cắt qua vài đoạn rạch Xà No, nên người ta đặt tên luôn là kinh xáng Xà No kể cả phần kinh thuộc Cần Thơ hay Rạch Giá. Quy cách đào: bề ngang mặt kinh 60 mét, bề ngang đáy kinh 40 mét, độ sâu từ khoảng 2 mét 5, đến 9 mét (đúng với năng lực của xáng). Kỹ thuật đào theo mô tả: mỗi gàu của xáng khi múc được 375 lít, múc xong đưa lên cao rồi trút vào hai chiếc máng bên hông xáng, đất sẽ đánh thành bùn, được thổi ra theo máng lên bờ, xa đến 60 mét. Đất đổ lên tạo cho hai bờ kinh cao lên thành lộ lớn, khô dần. Xáng đào tới đâu kinh mở ra tới đó. Trên bờ nhân công chuẩn bị các bãi củi sẵn sàng tiếp tế. Bốn chiếc xáng cứ thế chạy máy, nổ vang cả 3-4 cây số còn nghe, đào múc ngày đêm một cách khẩn trương. Tháng khởi đầu xáng đào được 60.000 mét khối, đến tháng thứ 25 năng suất đào lên đến 200 ngàn mét khối.

Đến tháng 7/1903 việc thi công hoàn tất, kinh dài đến 34 cây số ngàn, nối một mạch thẳng tắp từ Vàm Xáng Rạch Cần Thơ, một nhánh của Sông Hậu cho đến ngọn rạch Cái Tư, một nhánh của sông Cái Lớn. Phần kinh trên đất Cần Thơ 12 cây số; phần kinh trên đất Rạch Giá 22 cây số. Tổng phí tổn là 3 triệu 680 ngàn quan Pháp. Xem như, đây là một thành công đặc biệt của người Pháp ở bước khởi đầu công cuộc khai thác bằng cơ giới. Bởi nhìn lại công cuộc đào kinh Vĩnh Tế bằng thủ công, phải huy động đến 80.000 người trong 5 năm mới hoàn thành. Do vậy, nên ngày lễ khánh thành kinh xáng Xà No tổ chức thật lớn. Lần đầu tiên có cả toàn quyền Đông Dương chịu đặt chân đến dự, cùng với nhiều quan chức các tỉnh và địa phương.

Để phát huy tác dụng kinh xáng Xà No, sau này người Pháp tiếp tục cho đào những con kinh sườn, sâu vô cánh đồng, cứ cách 500 mét, đào một con kinh nhỏ; cách 1000 mét thì đào một con kênh lớn hơn. Cách đào theo lối “xôm lươn” như dân gian thường nói, nghĩa là con kênh bờ bên này không giao nhau với con kinh bờ bên kia, mà lệch xa cách khoảng nên không thành ngã tư- giao điểm. Đây cũng là một kỹ thuật “thủy nông” được tính toán chú đáo nhằm điều tiết dòng chảy đưa nước vào đồng ruộng hoặc tháo nước ra một cách điều hòa.

Như nhà văn Sơn Nam nhận xét, việc đào kinh xáng Xà No nối Cần Thơ- Rạch Giá, có thể gọi là “quả đấm chiến lược” về kinh tế và chính trị đối với người Pháp, bởi nó vừa biểu dương sức mạnh cơ khí của phương Tây; vừa mở ra một triển vọng mới trong công cuộc hình thành vựa lúa Miền Hậu Giang.

II. KẾT QUẢ MANG LẠI TỪ VIỆC ĐÀO KINH XÁNG XÀ NO

Vẫn kế thừa kinh nghiệm, thành quả đào kinh mà Triều Nguyễn thực hiện trước đây - kinh xáng Xà No nối Rạch Cần Thơ - Sông Hậu, qua sông Cái Lớn đưa lượng nước ngập úng, nước lụt mùa mưa ra biển Tây. Đây là một công trình thủy nông quy mô, nhưng tính ra ít tốn công sức, vì chỉ cần đào xuyên qua giữa cánh đồng lớn giáp Cần Thơ- Rạch Giá thì “thủy lợi” sẽ được phát huy ngay. Thế nên, chỉ mới hay tin có kế hoạch đào kinh Xà No mà rất nhiều địa chủ người Pháp, người Việt đã tìm cách sở hữu đất tốt, hoặc nắm trong tay một diện tích lớn để lập điền.Theo các tài liệu cho thấy, chỉ riêng hai địa chủ người Pháp có sáng kiến đào kinh Xà No để trưng khẩn đất là Duval và Gúery đã được toàn quyền Đông Dương ký cho không một diện tích 2.500 mẫu, thuộc bờ xáng nằm trên đất làng Nhơn Nghĩa gần rạch Cần Thơ.

Kinh xáng Xà No đào xong không bao lâu, chính quyền Pháp tiếp tục ban hành chính sách ưu đãi việc trưng khẩn, như có diện tích khoảng 400 mẩu thì được quyền lập một làng mới, dân gian thường gọi là “điền”. Có “điền ta” và “điền Tây”. Người Pháp, người Âu được ưu tiên: mỗi người có thể trưng khẩn 1000 ha, 5 năm sau mới đóng thuế trọng vẹn. Từ đó, địa chủ người Pháp, người Việt lập nên nhiều “điền” kiểu như vậy, với sự quản lý, tổ chức sản xuất lưu thông lúa gạo khá chặt chẽ. Ở khu vực kinh xáng Xà No, nổi bật và quy mô nhất là “Điền ông Kho” mà chủ điền là người Pháp Albert Gressier. Đây là một điền lớn nằm ở đoạn giữa kinh xáng Xà No, diện tích tổng cộng lên tới 30 ngàn mẩu, tập trung 3 ngàn hộ tá điền. Chỉ khoảng hơn mười năm khai khẩn, chủ điền đã lập nơi đây một cụm nhà máy xay lúa lớn, với 450 công nhân làm việc, mỗi năm có thể xay xát trên 100 ngàn tấn lúa. Gạo xay xong đưa nhanh về Chợ Lớn xuất cảng bằng những đoàn ghe chài dọc, ngang kinh Xà No khỏi phải qua trung tâm xay xát chợ Cái Răng.

Sự hình thành các điền Tây, tất nhiên mang lại nhiều lợi lộc cho các điền chủ, nhưng công tâm mà nói nó cũng góp phần làm thay đổi bộ mặt vùng đất giải quyết đời sống cho hàng chục ngàn nông dân, tá điền khắp nơi đổ về vùng kinh xáng Xà No lập nghiệp. Nhờ đào kinh Xà No, diện tích trồng lúa của tỉnh Cần Thơ chẳng mấy chốc đứng đầu Nam kỳ, kế đến là Rạch Giá, bởi diện tích dất xung quanh kinh Xáng Xà No đuợc khai khẩn lên đến hàng chục ngàn mẩu. Sau những năm đầu còn phải đào các kinh sườn, tháo nước rửa phèn, khắc phục nhiều khó khăn do các trận lũ lụt năm 1904 -1905, cánh đồng hoang vu hai bờ kinh Xáng Xà No bắt đầu phát huy hiệu quả. Đến năm 1910, ngoài những “điền Tây” có thêm nhiều làng mới hình thành, thu hút đông đảo dân cư về lập nghiệp, góp phần cho diện tích, sản lượng lúa tỉnh Cần Thơ - Rạch Giá tăng vọt: Tỉnh Rạch Giá với 142 ngàn mẫu, so với năm 1894 mới có 100 ngàn mẫu. Tỉnh Cần Thơ lên đến 171 ngàn mẫu, so năm 1894, mới 98 ngàn mẫu cao điểm đến năm 1930, Rạch Giá trở thành tỉnh đứng đầu Nam Kỳ về diện tích, sản lượng; với 319 ngàn mẫu và 344 ngàn tấn lúa. Đáng kể là trước khi đào kinh Xà No, dân số tỉnh Rạch Giá khoảng 90 ngàn người, đến năm 1930 tăng dến 338 ngàn người, cao gấp 10 lần so với khi người Pháp mới đến (1867).

Sự gia tăng diện tích và sản lượng lúa Miền Hậu Giang, đặc biệt là vùng đất hữu ngạn sông Hậu, giáp biển Tây do hiệu quả kinh Xáng Xà No mang lại. Sau đó người Pháp tiếp tục đào nối con kinh này qua hướng Sóc Trăng, Bạc Liêu. Nước ngọt tiếp tục lấn về phía duyên hải. Đặc biệt, người Pháp tiếp tục đào các cụm kinh Ngã Bảy (Phụng Hiệp), Ngã Năm (Long Mỹ) kinh xàng Nàng Mau, kinh Ngang Dừa nối kinh Xáng Xà No bằng những kinh sườn hoặc những con rạch lớn, đưa nước ngọt phù sa sông Hậu vô tưới tiêu; khai khẩn thêm hàng trăm ngàn mẫu đất thuộc tỉnh Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng, Bạc Liêu.

Chỉ 4 năm sau khi đào kinh Xáng Xà No, chính quyền Pháp lập thêm 3 huyện mới trong tỉnh Rạch Gía là Long Mỹ, Gò Quao, Giồng Riềng. Quận Châu Thành Cần Thơ ngày càng phát triển với quận lỵ là chợ Cái Răng vừa cận kề tỉnh lỵ; vừa là điểm đón đầu ghe, tàu từ kinh Xáng Xà No lên.

Lúa gạo có giá đã kích thích giới địa chủ, nông dân các tỉnh lân cận, nhanh chóng khai khẩn đất tiếp sau việc đào các con kinh. Lúa gạo Miền Hậu Giang càng gia tăng sản lượng. Năm 1908 toàn Nam Kỳ xuất cảng được 1 triệu 300 ngàn tấn; thì Miền Hậu Giang chiếm đến 900 ngàn tấn. Với số lượng khổng lồ như vậy, thì Miền Hậu Giang nói chung và riêng các tỉnh Rạch Gía, Cần Thơ, Bạc Liêu… đã trở thành trung tâm sản xuất lúa gạo; một vựa lúa thật sự của cả Đông Dương. Thành quả trên cho thấy: kinh Xáng Xà No không chỉ là công trình thuỷ nông lớn nhất ở đây, mà nó còn hiện diện với tư cách “con đường lúa gạo” chiến lược, thu hút nhiều “con đường lúa gạo khác” quanh vùng cung ứng nhu cầu cả nước và xuất cảng.

Sự hình thành “Con đường lúa gạo” do những điều kiện thuận lợi sau đây:

- Kinh xáng Xà No ở vào vị trí trung tâm vùng sản xuất lúa gạo hàng trăm ngàn ha, với nhiều “điền Tây” và “điền ta”, một số điền đã cơ giới hóa các khâu sản xuất chế biến.

- Kinh Xáng Xà No là trục giao thông thuỷ chiến lược như một “quốc lộ trên sông” nối liền nhiều địa phương trong tỉnh Rạch Giá, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau với Cần Thơ, vào lúc này được xem như đất Tây Đô – “thủ phủ” của Miền Hậu Giang. Trước khi đào kinh xáng Xà No, người dân những nơi này chỉ đi chợ Rạch Giá bằng đường biển theo sông Cái Lớn, vừa nguy hiểm, vừa xa xôi đến hơn 100 cây số, trong khi đi theo đường kinh Xáng Xà No chỉ trên dưới 40-50 cây số.

- Từ kinh xáng Xà No, các “điền Tây” hoặc chính quyền các địa phương tiếp tục đào nối nhiều kinh khác, sâu vô các làng mới nên lúa gạo vận chuyển lưu thông dể dàng khi mua bán.

- Nổi bật là việc hình thành trung tâm chế biến, xay xát lúa gạo ở chợ Cái Răng - đầu cầu của kinh xáng Xà No đã góp phần kích thích sản xuất, lưu thông tập trung lúa gạo về một đầu mối để xay xát rồi đưa lên Chợ Lớn xuất cảng. Tại chợ Cái Răng, từ thập niên đầu của thế kỷ XX, sinh hoạt giao thương các mặt đã nhộn nhịp, phố xá sung túc. Ngành công nghiệp xay xát lúa gạo ra đời đúng vào lúc kinh xáng Xà No mang lại kết quả khả quan. Tại đây, bên cạnh hàng chục nhà máy xay công suất lớn còn có nhiều chành, vựa khổng lồ, có chành chứa đến 100 ngàn giạ lúa. Ngoài ra, các chủ nhà máy, chủ chành còn tổ chức hàng trăm ghe chài, ghe tam bản đi mua gom lúa gạo tận xóm ấp xa xôi. Chợ Cái Răng luôn có hàng trăm công nhân nhà máy, bốc vác lúa gạo sẵn sàng làm việc tạo nên không khí lúc nào cũng sôi động, tấp nập.

Từ “con đường lúa gạo” – kinh xáng Xà No còn khởi phát các giá trị mới về văn hóa- văn minh:

-Dân cư thích sống tập trung dọc theo hai bờ kinh xáng. Người lắm tiền cố mua cho được đất bờ xáng để làm vườn, cất nhà ở. Lâu dần “đất bờ xáng” có gía trị nhất vì cao ráo, ngay mặt tiền, dễ trồng trọt.

- Kinh xáng Xà No tấp nập xuồng ghe, dân cư đông đúc cũng là điều kiện để nghề thương hồ phát triển, dần hình thành chợ nổi Cái Răng. Ngoài ra, còn có nhiều làn điệu dân ca đặc sắc được hình thành, mang chủ đề kinh xáng!

Phải chăng, kinh xáng Xà No đã góp phần tạo nên tính cách “người kinh xáng”, “người Hậu Giang” - “Miền Hậu Giang”?. Từ con đường lúa gạo, đã tạo nên những giá trị mới, hình thành “con đường văn hoá văn minh kinh xáng” cho đến nay, vẫn in đậm trong ký ức bao người; cũng như vẫn còn đó trong cuộc sống hiện đại.

Trong chiến tranh-kinh xáng Xà No trở thành “con đường quân sự” của cả hai phía: ta và địch!

Năm 1952, quân dân Vị Thanh - Hoả Lựu đánh chìm một tàu mặt dựng của quân Pháp, diệt 400 tên giặc. Điền Tây Ông Kho cũng từng bị ta đánh chiếm. Sang thời chống Mỹ, quân giải phóng từng đánh diệt chi khu Một Ngàn, chiến dịch “Xà No dậy sóng” tạo nên nhiều chiến công. Về phía địch, từ thời Pháp thuộc cũng đã xem kinh xàng Xà no là “ con đường quân sự”. Các điền Tây đều kèm theo đồn bót đóng qâun, trong điền có trang bị vũ khí. Đầu thời kỳ chống Mỹ, chế độ Ngô Đình Diệm đã lập khu trù mật Vị Thanh - Hoả Lựu, đầu tư nạo vét kinh xáng Xà No. Sau đó, lập nên tỉnh Chương Thiện, cùng chi khu quân sự Đức Long, chi khu Một Ngàn bên bờ xáng Xà No để án ngữ các lực lượng cách mạng từ phía U Minh (Rạch Giá). Cũng từ dòng kinh xáng Xà No, các lực lượng quân ta với hàng trăm tàu, ghe đã tiến quân về giải phóng thị xã Cần Thơ trong ngày 30-04-1975.

Trong thời chiến tranh và cũng nhiều năm sau ngày giải phóng miền Nam, mọi đi lại giao dịch đều bằng đường thuỷ. Lúc này, đường bộ Rạch Giá- Cần Thơ và phần lớn vùng nông thôn Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau đều bị gián đoạn hoặc chưa được xây dựng, nên kinh xáng Xà No vẫn là trục giao thông và giao thương đường sông quan trọng nhất trong vùng. “Con đường lúa gạo” tiếp tục phát huy; hàng tiêu dùng thiết yếu đưa về theo kinh xáng Xà No, cung ứng cho nhu cầu nông thôn. Các thị trấn, thị tứ dọc theo kinh xáng Xà No, mua bán nhộn nhịp cùng với hàng ngàn tàu, ghe thương hồ. Từ thị xã Vị Thanh đến khu vực chợ Bảy Ngàn, chợ Một Ngàn, chợ Vàm Xáng, chợ Cái Răng…các nhà máy, chành lúa luôn hoạt động sôi nổi. Sản phẩm lúa gạo vẫn là hàng hóa chủ lực lưu thông trên thị trường.

Tóm lại, những kết quả, lợi ích từ việc đào kinh xáng Xà No mang lại thật là to lớn, nhất là việc hình thành “con đường lúa gạo” Miền Hậu Giang, tạo đòn bẩy mạnh mẽ góp phần phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Miền Hậu Giang, cũng như Tiểu vùng Tây sông Hậu.

IV. KHẲNG ĐỊNH VỊ TRÍ, VỊ THẾ TÍNH TẤT YẾU VỀ VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA KINH XÁNG XÀ NO TRONG SỰ PHÁT TRIỂN MIỀN HẬU GIANG XƯA VÀ TIỂU VÙNG TÂY SÔNG HẬU HÔM NAY

Trong một trăm năm ra đời, nằm ở vị trí đặc biệt: trung tâm của một vùng đất rộng lớn giữa các tỉnh Cần Thơ, Rạch Giá, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau… Kinh xáng Xà No là cơ sở, điều kiện thúc đẩy sự hình thành đơn vị hành chính cấp tỉnh Chương Thiện trước đây và tỉnh Hậu Giang hôm nay. Nhờ vị trí đặc biệt này, công cuộc khai thác lớn gặt hái nhiều thành quả. Thử tính với 34 cây số đường dài, mỗi bên sâu vô 10 cây số - kinh xáng Xà No đã chi phối đời sống và điều kiện sản xuất cho trên 300 ngàn ha. Từ kinh xáng Xà No có thể lưu thông nhanh chóng đến khắp Nam kỳ, nối liền với vùng biển phía Tây và cả phía Đông. Trước khi làm đường bộ Rạch Giá - Vị Thanh - Cần Thơ, thì kinh xáng Xà No là đường thuỷ gần nhất giữa Cần Thơ - Rạch Giá và nhiều vùng nông thôn các tỉnh lân cận. Người ta phỏng độ: thời kỳ nửa đầu thế kỷ XX, mổi năm có cả triệu tấn lúa gạo được vận chuyển theo con đường này.

Vị trí được khẳng định, vị thế kinh xáng Xà No ngày càng nâng lên. Có người gọi kinh xáng Xà No là “đường thuỷ chiến lược” là “ quốc lộ trên sông” – nhưng vượt lên trên hết – kinh xáng Xà No chính là “con đường lúa gạo Miền Hậu Giang”. Người Pháp coi trọng vị thế dòng kinh này vì nó mang bao nguồn lợi to lớn cho chế độ thực dân, đang khai thác thuộc địa; Nhân dân Miền Hậu Giang coi trọng vị thế kinh xáng Xà No bởi nó mang đến sự ấm no, trù phú cho hàng triệu người, góp phần cho Miền Hậu Giang trở thành vựa lúa của Đông Dương trong thời thời gian rất dài.

Ngày nay, vị thế của kinh xáng Xà No càng được khẳng định, bởi sự gắn kết với nhiều dự án công trình phát triển Tiểu vùng Tây sông Hậu và bán đảo Cà Mau. Tất cả cho thấy một cách rõ nét: tính tất yếu về vai trò quan trọng của kinh xáng Xà No trong quá trình hình thành và phát triển Miền Hậu Giang - Tiểu vùng Tây sông Hậu.

Rò ràng: nếu không có “đòn bẩy” kinh xáng Xà No – “con đường lúa gạo”, thì đến khi nào, mới có sự phát triển nhanh chóng của vùng Rạch Giá-Kiên Giang? Nếu không có kinh xáng Xà No, Cần Thơ có sớm trở thành thủ phủ Miền Hậu Giang xưa, đồng bằng sông Cửu Long hôm nay? Và, nếu không có kinh xáng Xà No, biết đâu vẫn chưa có được một tỉnh Hậu Giang và Tiểu vùng Tây sông Hậu đang trên đường phát triển mạnh mẽ như bây giờ.

Khẳng định quá khứ để nhìn về tương lai, chúng ta sẽ kế thừa và phát huy vai trò của kinh xáng Xà No như thế nào trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

Dù hiện nay, ở đồng bằng sông Cửu Long đã xuất hiện nhiều “Con đường lúa gạo mới”, nhiều “Trung tâm lúa gạo khác”- thế nhưng, kinh xáng Xà No- vẫn là “Con đường lúa gạo” huyết mạnh của Tiểu vùng Tây sông Hậu, bởi hàng trăm ngàn ha đất trồng lúa ở đây vẫn đang phát huy sản xuất, từng bước hướng đến nền nông nghiệp công nghệ cao; cũng như hàng triệu cư dân trong vùng vẫn sống và gắn bó với dòng kinh trăm tuổi này.

Do hạn chế về tư liệu, chủ yếu chỉ dựa vào sách biên khảo của nhà văn Sơn Nam – người con của đất Rạch Giá xưa, cùng các bài đăng rải rác trên báo chí. Do đó chúng tôi rất mong hội thảo góp thêm trí tuệ, làm sáng tỏ các vấn đề; khẳng định vị trí; vị thế và vai trò quan trọng của kinh xáng Xà No - “con đường lúa gạo Miền Hậu Giang” xưa và Tiểu vùng Tây sông Hậu hôm nay. Đồng thời, Ban Tổ chức cũng rất mong đón nhận những khuyến nghị của đại biểu để tiếp tục phát triển kinh xáng Xà No một cách bền vững với nhiều hướng đi mới; để từ kinh xáng Xà No - Tiểu vùng Tây sông Hậu hôm nay sẽ có những bước đột phá để vươn lên một cách tòan diện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Gia Định Thành Thông Chí, Trịnh Hoài Đức, NXB Giáo dục (1988).
- Tìm hiểu Đất Hậu Giang Sơn Nam, NXB Phù Sa (1959).
- Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Sơn Nam, NXB Văn nghệ (1994).
- Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang, Nguyễn Văn Hầu, NXB Trẻ (2006).
- Nam Bộ xưa và nay, NXB TP. Hồ Chí Minh và Tạp chí Xưa và nay (1999).
- Số liệu kinh tế - xã hội đồng bằng sông Cửu Long 2000-2004, Cục Thống kê TP. Cần Thơ (2005).
- Cái Răng hình thành và phát triển, Nhâm Hùng, NXB Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh (2007).
- Lịch sử Đảng bộ huyện Châu Thành – Cần Thơ (1999).


Quay lại     Thêm vào danh sách ưa thích     Gửi bạn bè     In ấn


  • CÁC TIN MỚI HƠN
  •  

  • Vai trò của Kênh xáng Xà No trong hệ thống thủy lợi Vùng bán đảo Cà Mau
    Từ Kinh xáng Xà No nhìn lại sự phát triển của hệ thống Thủy lợi của miền Hậu Giang


  • CÁC TIN CŨ HƠN
  •  

  • Từ kinh xáng Xà No nhìn lại sự phát triển hệ thống thủy lợi của Miền Hậu Giang
    Kinh xáng Xà No - Con đường lúa gạo Miền Hậu Giang
    Hội thảo ”Kinh xáng Xà No - Con đường lúa gạo miền Hậu Giang”

    Các tin khác

     



    Sản Xuất Lúa Gạo trong Chiến Lược An Ninh Lương Thực Quốc Gia và Hội nhập quốc tế



    Văn minh lúa nước - Nét đặc thù của nông nghiệp Việt Nam



    Hội thảo “Lúa gạo Việt Nam xuất khẩu và hội nhập”



    Giải đua ghe ngo Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ I – Hậu Giang năm 2009



    Tham luận: Sản xuất lúa gạo Việt Nam - thành tựu và thách thức



    Chương trình Lễ hội ẩm thực & Tái hiện chợ nổi trên sông Festival lúa gạo Việt Nam 2009



    Liên hoan Đờn ca Tài tử Nam Bộ tại Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ I – Năm 2009



    Thực đơn Ẩm thực Hậu Giang



    Phát triển cây trồng thích nghi với biến đổi khí hậu



    Nhiều giải pháp phát triển cây lúa



    Chương trình khai mạc Lễ hội ẩm thực & Tái hiện chợ nổi trên sông



    Hội thảo ”Kinh xáng Xà No - Con đường lúa gạo miền Hậu Giang”


    Hỗ trợ














    VITV



    Trang chủ   |   Tổng quan   |   Ban tổ chức   |   Hội thảo - Hội thi   |   Nhật ký Festival   |   Đất & Người Hậu Giang   |   Bên lề Festival   |   Dịch vụ   |   Nhà tài trợ   |   Thư viện   |   Liên hệ
    © 2009 Festival Lúa Gạo Việt Nam
    Ghi rõ nguồn www.festivalluagao.vn khi phát hành thông tin từ website này
    Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ info@festivalluagao.vn
    Có 16 người đang truy cập. Tổng số lượt truy cập: 625.040