Thứ năm, ngày 09 tháng 09 năm 2010.
 
Tiếng Việt | English
Tổng quan Ban tổ chức Hội thảo - Hội thi Nhật ký Festival Đất & Người Hậu Giang Bên lề Festival Dịch vụ Nhà tài trợ Thư viện
Hội thảo ”Kinh Xánh Xà No - con đường lúa gạo miền Hậu Giang”

Vai trò của Kênh xáng Xà No trong hệ thống thủy lợi Vùng bán đảo Cà Mau


VAI TRÒ CỦA KÊNH XÁNG XÀ NO
TRONG HỆ THỐNG THỦY LỢI VÙNG BÁN ĐẢO CÀ MAU

Th.s Nguyễn Xuân Hiền
Kỹ sư cao cấp Thái Đình Khang
Viện Quy Hoạch Thuỷ Lợi Miền Nam

Miền Hậu Giang nhìn ra vịnh Thái Lan, đây là một vịnh kín, có chế độ nhật triều với biên độ dao động nhỏ (khoảng ¼ biên độ triều biển Đông), cường suất lên xuống thấp, mặt nước phẳng lặng; có dòng hải lưu ấm áp đã tạo nên hệ sinh thái phát triển đa dạng, các loài hải sản sinh trưởng nhanh, khả năng khai thác kinh tế biển là vô cùng to lớn.

Rừng U Minh vốn nổi tiếng là vùng rừng đầy tiềm năng, sản vật rừng phong phú. Hai thế kỷ trước đây, miền Hậu Giang khắp nơi bao phủ bởi rừng tràm hoang dã. Dân cư thưa thớt với nguồn sống chính là sản vật của thiên nhiên. Kinh tế mang nặng tính tự cung, tự cấp. Sông rạch còn ở trạng thái tự nhiên, chưa có tác động lớn của con người. Đường bộ hầu như chưa phát triển, đường sông thưa thớt - Giao lưu với bên ngoài bị hạn chế. Người Pháp đã sớm nhận thức được vai trò của mạng lưới giao thông đường thuỷ. Năm 1876 trong tờ trình lên Thống đốc Nam Kỳ, Kỹ sư Bernabeng đã viết: ”Không có kênh giao thông thì không có thuộc địa vì an ninh đi đôi với giao thông thuỷ”.

Cũng như các kênh Lái Hiếu, kênh Thốt Nốt, kênh Rạch Giá - Hà Tiên, kênh Xà No đã mở đường đi về các Ngã Năm, Ngã Bảy…hình thành các tụ điểm giao lưu văn hoá xã hội sầm uất của miền Hậu Giang. Kênh xáng Xà No có chiều dài khoảng 40 km, bắt nguồn từ Cần Thơ nối với sông Cái Tư (tỉnh Rạch Giá). Công trình được khởi công vào năm 1901 và đến giữa năm 1903 hoàn tất với bề rộng kênh 60 m.

Quá trình đào kênh cũng là quá trình hình thành tự phát những khu dân cư định cư doc theo kênh. Đất đào kênh đắp đến đâu dân cư dựng nhà và khai hoang đến đó. Diện tích trồng lúa được mở rộng nhanh chóng. Sản xuất lúa gạo đã mang lại lợi ích lớn. Các chủ điền đua nhau lập ấp khẩn hoang. Người Pháp vốn xa lạ với nghề trồng lúa nước cũng đã đua nhau đầu tư hạ tầng kỹ thuật thuỷ lợi như cống, đập….xây dựng các đồn điền quy mô lớn ven kênh Xà No.

Kênh xáng Xà No ngoài việc giải quyết tiêu thoát nước cho khoảng 40.000 ha miền đất Hậu Giang, phục vụ cho người dân đến khai hoang, sản xuất và sinh sống; nó còn là trục kênh rất quan trọng cho việc giao thương lúa gạo miền Hậu Giang. Xưa kia xuất khẩu lúa gạo chủ yếu bằng đường biển qua thương khẩu Rạch Giá, Hà Tiên. Khi có kênh xáng Xà No nối liền giữa biển Tây và Sông Hậu thì lúa gạo Hậu Giang thu gom phần lớn về chợ Cái Răng qua đường kênh xáng này và dọc theo tuyến mọc lên nhiều “chành lúa” rất lớn. Theo số liệu năm 1899, Nam Kỳ xuất cảng được 500.000 tấn, sau khi có kênh xáng Xà No tăng lên 1.300.000 tấn.

Như nhà văn Sơn Nam nhận xét, việc đào kênh xáng Xà No nối Cần Thơ- Rạch Giá, có thể gọi là “quả đấm chiến lược” về kinh tế và chính trị đối với người Pháp, bởi nó vừa biểu dương sức mạnh cơ khí của phương Tây; vừa mở ra một triển vọng mới trong công cuộc hình thành vựa lúa miền Hậu Giang.

Tuy nhiên, những kết quả bước đầu kể trên đã bị gián đoạn vì hơn 40 năm chiến tranh. Ruộng đồng bỏ hoang, các công trình thuỷ lợi bị hư hỏng, rừng rậm cỏ dại lan tràn trên cả mặt kênh. Cho đến năm 1975, khi hoà bình lập lại, miền Hậu giang cũng chưa được phát triển tương xứng với tiềm năng to lớn của khu vực. Thâm canh tăng vụ chưa phát triển. Cả một vùng rộng lớn từ Hoả Lựu, Cầu Đúc cho đến ngọn sông Cái lớn Cái Bé vẫn còn hoang vu chưa được khai phá.

Để khai thác tiềm năng to lớn của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), ngay từ năm 1975, Bộ Thuỷ lợi đã thành lập Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thủy Lợi Nam Bộ nay là Viện Quy hoạch thuỷ lợi miền Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh, đoàn Quy Hoạch Thủy lợi ĐBSCL tại Cần Thơ để bám sát địa bàn, tiến hành khảo sát và lập phương án xây dựng hệ thống thuỷ lợi miền Hậu Giang.

Do đặc điểm địa lý miền Hậu Giang nằm vào vùng có chế độ dòng chảy khá phức tạp - giao thoa của 3 chế độ dòng chảy: • Chế độ bán nhật triều Biển Đông biên độ giao động hơn 3m
• Chế độ nhật triều Vịnh Thái Lan biên độ giao động không đầy 1m
• Chế độ dòng chảy thay đổi theo mùa từ thượng nguồn của sông Mekong.
Vùng giáp nước xẩy ra ở vùng đầu ngọn sông Cái Lớn Cái Bé đã gây nên tình trạng tiêu thoát nước khó khăn, mặn xâm nhập từ Biển Đông và biển Tây, những vùng đất phèn tiềm tàng… và khả năng tiếp nước của Kênh Xà No cũng như các kênh dẫn nước từ sông Hậu về đều bị hạn chế.

Mô hình thuỷ lực của giáo sư Nguyễn Như Khuê đã chứng minh được là mực nước vùng Cà Mau – U Minh có thể hạ thấp bằng hệ thống cống ngăn triều Biển Đông – tạo độ dốc mặt nước trên kênh Xà No, kinh Quản Lộ – Phụng Hiệp… để đưa nước ngọt sông Hậu về nhiều hơn. Đây cũng là bước tiến bộ lớn, trái ngược với quan điểm của các chuyên gia Hà Lan là “muốn đưa nước ngọt về cho vùng Cà Mau – U Minh, phải đặt trạm bơm siêu lớn trên kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp”.

Cùng với việc đào mới hệ thống kênh KH (KH1, Kh3, Kh5, KH6, KH7, Kh8, KH9…), nối liền 2 tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang và Tp. Cần Thơ; nạo vét, mở rộng kênh các kênh dọc nối với sông Hậu như QLPH, Kênh Xà No, Thốt Nốt, Ô Môn v.v… với mục tiêu:

• Khai thác tối đa lượng nước từ sông Hậu mở rộng diện tích vùng ảnh hưởng nước ngọt nhằm gia tăng diện tích trồng lúa phát triển nuôi trồng thuỷ sản cho miền Hậu Giang, vùng Bán đảo Cà Mau và rừng U Minh.
• Phát triển thành trục giao thông thuỷ nối liền Cà Mau với Thành phố Hồ Chí Minh, mở rộng con đường Hội nhập cho miền Hậu Giang.

Hàng loạt cống kiểm soát mặn ven kênh Bạc Liêu – Cà Mau đã được xây dựng, không chỉ là công trình ngăn mặn cho hệ thống Quản Lộ – Phụng Hiệp mà còn hạ thấp mực nước vùng Cái Tư cuối kênh Xà no, kênh Chắc Băng, Cạnh Đền – tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống kênh KH, kênh QLPH và đặc biệt là kênh Xà No và các kênh dọc phát huy tác dụng dẫn ngọt từ sông Hậu về nhiều hơn.

Với nguồn nước thuận lợi, người dân miền Hậu Giang đã có thể trồng cấy một năm ba vụ ăn chắc cho năng suất cao, với mô hình phổ biến là 3 vụ lúa, 2 lúa một màu hoặc 2 lúa + thủy sản. Đời sống người dân miền Hậu Giang ngày càng được cải thiện rõ rệt, và miền Hậu Giang đã trở thành một vùng đóng góp quan trọng đảm bảo an ninh lương thực cũng như xuất khẩu gạo của ĐBSCL cũng như của cả nước.

Hiện nay, một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 là biến đổi khí hậu (BĐKH), nước biển dâng. Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển trung bình toàn cầu tiếp tục tăng nhanh chưa từng có và đang là mối lo ngại của các quốc gia trên thế giới. Theo đánh giá của ngân hàng Thế giới (2007), Việt Nam là một trong năm quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH và NBD, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng và đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất.

Hậu quả của BĐKH đối với Việt Nam là nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói-giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước. Các lĩnh vực, ngành, địa phương dễ bị tổn thương và chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu là tài nguyên nước, nông nghiệp và an ninh lương thực, sức khoẻ con người ở các vùng đồng bằng và dải ven biển.

Để ứng phó với BĐKH- nước biển dâng, trong dự án quy hoạch thủy lợi vùng bán đảo Cà Mau (đã được bộ NN&PTNT phê duyệt tháng 5 năm 2009), Viện QHTL Miền Nam đã đưa nội dung xây dựng cống Cái Lớn, Cái Bé vào trong lộ trình thực hiện 2009-2015. Cống và âu thuyền trên sông Cái Lớn, Cái Bé có vai trò quan trọng ngăn xâm nhập mặn, không cho lượng nước ngọt từ sông Hậu thất thoát ra biển Tây, làm dâng đầu nước để tiếp nước ổn định từ sông Hậu qua hệ thống kênh KH, các kênh dọc và đặc biệt là kênh Xà No cho vùng U Minh Thượng, U Minh Hạ và vùng Tây nam QL-PH.

Công trình ngăn sông vĩ đại này sẽ được tự động hoá cao độ, vận hành theo chương trình vạch sẵn thực hiện chính xác theo ý đồ điều khiển của con người nhằm hạn chế thấp nhất mặt tiêu cực và phát huy tối đa mặt tích cực do BĐKH-nước biển dâng gây nên.

Chúng ta tin tưởng rằng, trải qua kinh nghiệm hàng trăm năm phát triển, nhân dân miền Hậu Giang quả cảm đầy sáng tạo đã xây dựng nên miền Hậu giang trù phú như ngày nay thì cũng sẽ tiếp tục tạo nên những bước đi đúng đắn để đưa kinh xáng Xà No không chỉ là con đường “Hội nhập” với những Ngã Năm, Ngã Bảy… trung tâm văn hoá một thời của miền Hậu Giang mà còn đưa miền Hậu Giang tiến nhanh, tiến vững chắc hơn nữa trên con đường “Hội nhập” với Thành phố Hồ Chí Minh và Quốc tế.


Quay lại     Thêm vào danh sách ưa thích     Gửi bạn bè     In ấn


  • CÁC TIN MỚI HƠN
  •  

  • Từ Kinh xáng Xà No nhìn lại sự phát triển của hệ thống Thủy lợi của miền Hậu Giang


  • CÁC TIN CŨ HƠN
  •  

  • Báo cáo đề dẫn Kinh Xáng Xà No con đường lúa gạo miền Hậu Giang
    Từ kinh xáng Xà No nhìn lại sự phát triển hệ thống thủy lợi của Miền Hậu Giang
    Kinh xáng Xà No - Con đường lúa gạo Miền Hậu Giang
    Hội thảo ”Kinh xáng Xà No - Con đường lúa gạo miền Hậu Giang”

    Các tin khác

     



    Sản Xuất Lúa Gạo trong Chiến Lược An Ninh Lương Thực Quốc Gia và Hội nhập quốc tế



    Văn minh lúa nước - Nét đặc thù của nông nghiệp Việt Nam



    Hội thảo “Lúa gạo Việt Nam xuất khẩu và hội nhập”



    Giải đua ghe ngo Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ I – Hậu Giang năm 2009



    Tham luận: Sản xuất lúa gạo Việt Nam - thành tựu và thách thức



    Chương trình Lễ hội ẩm thực & Tái hiện chợ nổi trên sông Festival lúa gạo Việt Nam 2009



    Liên hoan Đờn ca Tài tử Nam Bộ tại Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ I – Năm 2009



    Thực đơn Ẩm thực Hậu Giang



    Phát triển cây trồng thích nghi với biến đổi khí hậu



    Nhiều giải pháp phát triển cây lúa



    Chương trình khai mạc Lễ hội ẩm thực & Tái hiện chợ nổi trên sông



    Hội thảo ”Kinh xáng Xà No - Con đường lúa gạo miền Hậu Giang”


    Hỗ trợ














    VITV



    Trang chủ   |   Tổng quan   |   Ban tổ chức   |   Hội thảo - Hội thi   |   Nhật ký Festival   |   Đất & Người Hậu Giang   |   Bên lề Festival   |   Dịch vụ   |   Nhà tài trợ   |   Thư viện   |   Liên hệ
    © 2009 Festival Lúa Gạo Việt Nam
    Ghi rõ nguồn www.festivalluagao.vn khi phát hành thông tin từ website này
    Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ info@festivalluagao.vn
    Có 19 người đang truy cập. Tổng số lượt truy cập: 625.059