TỪ KINH XÁNG XÀ NO
NHÌN LẠI SỰ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THỦY LỢI
CỦA MIỀN HẬU GIANG
TS. Lê Anh Tuấn
Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên, trường Đại học Cần Thơ
Tóm lược
Từ đầu thế kỷ thứ XX, kinh xáng Xà No được xem là một trong các kinh đầu tiên được đào bằng xáng. Kinh xáng Xà No là một hệ thống giao thông thủy huyết mạch vùng miền Tây, nối liền sông Hậu phía Cần Thơ đến Rạch Giá, rổi thông ra Biển Tây. Trên 100 năm qua, sau khi hoàn thành kinh xáng Xà No, hệ thống thủy lợi ở miền Hậu Giang (vùng đất phía Tây Nam sông Hậu) được tiếp tục mở rộng dần làm nhằm thay đổi diện mạo nông nghiệp và cuộc sống của cư dân trong khu vực.
Bài viết này điểm lại lịch sử quá trình xây dựng Kinh xáng Xà No và các hệ thống thủy lợi khác trong bối cảnh khẩn hoang lập ấp, khai thác thủy lộ, dẫn thủy nhập điền, phát triển sinh kế của người dân miền Nam Việt Nam. Bài này cũng dẫn chứng các vai trò thủy học của các hệ thống kinh đào trong công cuộc khai thác nông nghiệp miền Hậu Giang nói riêng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói chung.
Từ khóa: Kinh xáng Xà No; Hậu Giang; hệ thống thủy lợi; lúa gạo.
1. SỰ HÌNH THÀNH TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI VÙNG ĐBSCL
Vùng hạ lưu của lưu vực sông Mekong, hay với tên Cửu Long ở Việt Nam, hình thành qua một quá trình dài tích lũy chất trầm tích của cả sông Mekong và trầm tích Biển Đông qua các thời kỳ dài luân chuyển sự thay đổi mực nước biển. Các dấu tích Hang Cá Sấu, Thạch Động, Hòn Đất, di tích Óc Eo vùng Kiên Giang – An Giang có thể minh chứng một phần các quá trình kiến tạo địa chất này. Các vùng đất tương đối xa sông Cửu Long, xa biển như vùng Đồng Tháp Mười, vùng Tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, vùng U Minh, vùng Hậu Giang là những nơi ít nhận chất trầm tích hơn trở nên các vùng lung trũng, úng lụt và ngập triều. Cao độ các nơi này thấp, phổ biến từ 0 – 1,5 mét mang đặc điểm của các vùng đất ngập nước, vùng trầm thủy, đầy “chướng khí”. Vào thế kỷ thứ XVI – XVIII, các nơi này vẫn là các vùng đất hoang sơ, vắng người, ẩm thấp, lầy lụt, phổ biến các loại thực vật ái thủy, chịu úng ngập. Từ cửa biển là các loại chịu mặn như cây mắm đen tiên phong giữ đất, sau đó là vẹt, đước, rồi hàng chục loại cây tự nhiên nước lợ và nước ngọt như cốc, ráng, sú, bần, dừa nước, mái dầm, ô rô,… Các vùng trũng phèn là các khu rừng tràm bạt ngàn, năn lát, cỏ, lúa ma, sen súng, …. Các động vật hoang dã bao gồm các loại cá sấu, cọp, khỉ heo rừng, chuột bọ, các loại cá nước ngọt, rùa, trăn rắn, rái cá, ếch nhái, chim nước, côn trùng, muỗi mòng, đỉa vắt,… Khí hậu gió mùa, nóng và ẩm, mỗi năm có 2 mùa mưa – mùa nắng là một trong các đặc điểm tự nhiên vùng ĐBSCL.
Sông Mekong dài hơn 4.200 km, xuất phát từ Tây Tạng chảy qua Trung Hoa, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và cuối cùng đổ vào Việt Nam để thoát ra Biển Đông. Từ thượng nguồn, sông Mekong chảy theo hướng Bắc – Nam là chủ yếu, nhưng sau khi qua Phnom Penh, sông rẽ ngoặt theo hướng Tây Bắc – Đông Nam (Tuấn, 2007), chia làm 2 nhánh là sông Tiền và sông Hậu chảy gần như song song với nhau. Khi đã vào sâu Việt Nam, sông Mekong tiếp tục chia thành nhiều nhánh nhỏ và thoát ra Biển Đông qua 9 cửa lần lượt là Cửu Tiểu, Cửa Đại, Cửa Ba Lai, Cửa Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên, Cửa Cung Hầu, Cửa Định An, Cửa Bát Xắc và Cửa Trần Đề (Tranh Đề). Vùng phía tây ĐBSCL có các sông tương đối ngắn khác là sông Cái Lớn, sông Cái Bé, sông Trèm Trẹm, sông Ông Đốc, sông Bảy Háp, sông Gành Hào, sông Bồ Đề, … Sông Cái Lớn xuất phát từ Đầm Dơi – Đầm Chim, chảy qua vùng Rạch Giá đổ ra Vịnh Thái Lan. Sông Bồ Đề là một nhánh nhỏ của sông Cái Lớn. Cả sông Cái Lớn và Cái Bé đều xuất phát từ vùng Vị Thanh (Chương Thiện cũ) đổ ra Biển Tây. Sông Trèm Trẹm đi qua vùng U Minh, An Xuyên thành sông Ông Đốc. Từ Quản Long có các sông Bảy Háp, sông Gành Hào đổ ra Vịnh Thái Lan. Ngoài ra, vùng ĐBSCL còn vô số các rạch nhỏ, luồng lạch phức tạp với các vùng đất ngập nước thường kỳ và định kỳ khác nhau, có nhiều phương ngữ mà không một vùng đất nào khác ở miền Bắc và miền Trung phong phú hơn như xẻo, ao, đìa, hào, bàu, lung, láng, đồng, vũng, bãi, đầm, gò, gành, ngọn, doi, vịnh, cồn, cù lao, hòn, đảo,... Để gọi đặc điểm của dòng nước, người dân vùng ĐBSCL có các tên gọi: nước lớn, nước ròng, nước rong, nước cường, nước kém, nước nổi, nước lụt, nước trầm, nước bạc, nước son, nước đục, nước nhảy, nước chụp, nước đứng, nước ngược, nước xuôi, giáp nước, nhồi nước, xiết nước, rải nước,…Về nguồn cung cấp và chất lượng nước thì có những từ: nước trời, nước mưa, nước sông, nước cây, nước ngầm, nước lung, nước đìa, nước mặn, nước ngọt, nước lợ, nước phèn, nước than bùn, …
Người Việt Nam phổ biến có mặt ở vùng ĐBSCL vào khoảng thập niên 1630 (Trịnh Hoài Đức, 1963). Phần lớn những bậc tiên phong đi khai phá đất phương Nam là người dân ở vùng Ngũ Quảng miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam và Quảng Ngãi), một tục lệ truyền thống của người dân Ngũ Quảng còn lưu truyền ở cư dân miền Nam là lễ “Tạ Thổ Kỳ Yên”. Thành phân di dân trải qua suốt gần 3 thế kỷ chủ yếu là những người nghèo, người không đất, một số là can phạm, tù binh thời Trịnh Nguyễn phân tranh, một phần là binh lính và một số ít quan lại cùng gia quyến được triều đình Huế đưa vào trị nhậm. Họ mau chóng kết thành những tập thể nhỏ, không phân biệt địa phương, thành phần giai cấp khi đến vùng đất mới. Phương tiện đi lại duy nhất là ghe xuồng, di chuyển dọc theo hệ thống sông dựa theo quy luật thủy triều của Biển Đông. Sự hình thành các trung tâm hành chính dọc theo hệ thống sông ngòi sau này, với khoảng cách tương đối đều là 60 km, mang tính độc đáo mà không nơi nào khác có được, chính là sự thích nghi với thiên nhiên đầu tiên của người dân vùng ĐBSCL trong quá trình chinh phục thiên nhiên và hình thành “văn minh sông nước”.
Sự di dân của người Việt như một quá trình Nam tiến có sự hậu thuẫn của triều đình Huế với chủ trương mở rộng quá trình “di dân – khai hoang – lập ấp”. Thập niên 1750, triều đình Huế hoàn toàn kiểm soát về mặt chính trị và lãnh thổ miền Nam. Sau khi xây dựng ban đầu các cơ sở hạ tầng hành chánh gồm các đạo, châu, … vua quan triều đình nhà Nguyễn nghĩ ngay đến việc xây dựng các tuyến giao thông thủy tạo điều kiện đi lại, thoát lũ và khai thác tưới tiêu. Khi người Pháp xâm chiếm, kiểm soát và thống trị hoàn toàn vùng phía Nam, họ thấy ngay tầm quan trọng của việc tạo ra các thủy đạo và hệ thống thủy nông cho khu vực để khai thác nông nghiệp và các nguồn lợi nông – lâm – thủy sản khác.
2. LƯỢC SỬ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THỦY LỢI VÙNG ĐBSCL
Con kinh đầu tiên được đào ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long là kinh nối liền giữa Vũng Gù (Tân An) đến Rạch Mỹ Tho. Kinh này do quan Nguyễn Cửu Vân cho đào năm 1705 (Sơn Nam, 2004). Đến năm 1819, vua Gia Long cho nạo vét mở rộng và đặt tên là kinh Bảo Định. Di tích bia đá Kinh Bảo Định hiện còn ở Ấp Phú Kiệu, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Từ đó, công cuộc đào kinh ở miền Nam lần lượt mở rộng. Trong giai đoạn 1705 – 1900, gần 20 con kinh đào đã được thực hiện bằng thủ công (Hình 1), trong đó nổi bậc nhất là công trình kinh đào Vĩnh Tế (Châu Đốc – Hà Tiên) do vị khai quốc công thần Thoại Ngọc Hầu chỉ huy kéo dài suốt 5 năm (1819 – 1824). Kinh Vĩnh Tế được quan Thoại Ngọc Hầu thực hiện sau khi làm xong kinh Thoại Hà (Núi Sập, An Giang) năm 1817. Kinh Vĩnh Tế được xem là kinh đào đa mục tiêu đầu tiên của vùng ĐBSCL, vừa có chức năng an ninh, quốc phòng (ngăn chặn giặc Cao Miên, Xiêm La), vừa có chức năng thoát lũ sông Mekong về phía Biển Tây, đi lại giữa Châu Đốc – Hà Tiên, vừa có chức năng xả phèn cùng Tây Nam Kiên Giang và cung cấp nước ngọt cho người dân hai bên bờ.
Từ khi hoàn toàn thống trị miền Nam từ 1867, người Pháp đã nghĩ ngay việc khai thác vùng đất Nam Kỳ bằng cách khai kinh tạo thủy đạo, bắt đầu từ kinh Trà Ôn (1875), kinh Chợ Gạo (1876 – 1877) (Hình 2), kinh Chẹt Sậy (1879), kinh Mirador, kinh Saintard (1880), kinh Ô Môn (1896), kinh Bà Thậm (1899). Năm 1882, cầu sắt Tân An vượt qua sông Vàm Cỏ được xây dựng. Đầu năm 1900, thực dân Pháp đã đưa 3 chiếc xáng múc chạy bằng hơi nước vào Nam Kỳ, với các tên gọi đơn giản là xáng I, II và III (Bigg, 2004). Hai chiếc xáng I và II (Hình 3) có công suất 300 mã lực, có thể đào 90.000 m3 đất/tháng (tương đương 1.000 lao động/tháng), chiếc III có công suất 250 mã lực, có thể đào 50.000 m3 đất/tháng. Khi mới nhập các xáng này vào, người Pháp cho vét Rạch Bến Lức và kinh Bảo Định nhưng không thành công (Sơn Nam, 2004). Đến khi đào kinh Xà No thì chiếc xáng này mới biểu dương sức mạnh cơ giới của nó, tạo nên một ấn tượng lớn đối với công chúng thời bấy giờ.

Hình 1: Tiến trình hình thành một số kinh đào chính ở ĐBSCL từ 1700 – 1930

Hình 2: Cảnh người dân đào kinh Chợ Gạo (1876)
(Nguồn: Ảnh lưu giữ ở Thư viện Bộ Ngoại giao Pháp, ký số A000760)
Hình 3 : Xáng II này đã từng thực hiện đào kinh Xà No.
Nguồn : GGI. Dragages du Cochinchine : Canal Rachgia-Hatien (1930) p. 29.
Kinh xáng Xà No dài gần 40 km, là một trong các con kinh đầu tiên ở miền Nam được đào hoàn toàn bằng cơ giới nối liền Sông Hậu ở Cần Thơ (đoạn Vàm xáng), đi qua miền Hậu Giang, đến Rạch Giá (Rạch Cái Tư – Sông Cái Lớn) thông ra Biển Tây (Hình 4). Kinh xáng Xà No hình thành đã thật sự nối sông Mekong với Biển Tây, xem như chính thức là một tuyến dòng chảy quan trong, tạo nên một hệ thống thủy văn thống nhất cho toàn vùng ĐBSCL.
Hình 4: Bản đồ kế hoạch xây dựng kinh xáng Xà No nối Cần Thơ và Rạch Giá
Nguồn: Gouvernement du Cochinchine. “Plan du Canal du Xano”. Saigon: Imprimerie Commerciale (1904). TTLTQG2. Fonds Goucoch. IA 13/232(1).
Từ khi hình thành kênh Xà No, dân số vùng Rạch Giá tăng gấp 3 lần sau 25 năm, từ 102.389 người (1901) lên 234.598 (1926), chủ yếu là di dân (Pascal, 2005). Họ đến vùng này định cư, dựng làng, canh tác lúa, đanh bắt thủy sản và khai thác lâm nghiệp. Hiện nay, có khoảng 600 lượt ghe tàu qua lại kinh xáng Xà No hằng ngày chuyển nông lâm thủy sản, nhất là lúa gạo, trao đổi giữa Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau qua Hậu Giang lên Cần Thơ, nối các vùng miền khác của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, sang Campuchia và xuất khẩu đi ra thế giới. Có thể nói trong giai đoạn 1900 – 1930, nhiều con kinh có tầm ảnh hưởng lớn cho giao thông thủy và canh tác nông nghiệp đã hình thành. Trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam, công tác thủy lợi bị chựng lại. Đoàn khảo sát Phát triển Đồng bằng Hà Lan (1973) đã hình thành một tập báo cáo rất quan trọng bao gồm các khảo cứu cơ bản tài nguyên nước và định hướng phát triển thủy lợi cho vùng ĐBSCL. Sau năm 1975, các hệ thống thủy nông đã khởi động và mở rộng hơn, phần lớn là đào kinh, xây trạm bơm tưới- tiêu, làm cống kiểm soát lũ, ngăn mặn, cấp nước. Đầu tư cho ĐBSCL về thủy lợi từ năm 1996 – 2000 là lớn nhất (Phan Khánh, 2005). Trận lũ lịch sử năm 2000 ở ĐBSCL là một lũ đôi đến sớm hơn mọi năm và gây thiệt hại nhiều cho người dân vùng Từ giác Long xuyên và vùng Đồng Tháp mưới (Tuấn et al., 2007). Chính sách “đổi mới” và trao quyền tự chủ cho nông dân là một đột phá lớn trong chính sách đã giúp Việt Nam trở lại vị trí nước xuất gạo. Năm 2005, Dự án Phát triển thủy lợi ĐBSCL từ nguồn vốn Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã khởi động với 3 tiểu dự án: Ô Môn – Xà No, Nam Măng Thít và Quản Lộ - Phụng Hiệp. Hiện nay, vấn đề thủy lợi của ĐBSCL đang được xây dựng lại cho phù hợp với tình hình mới, bảo đàm sản xuất lương thực (lúa, thủy sản, …), đời sống, hòa hợp với thiên nhiên và môi trường.
3. NHÌN LẠI SỰ PHÁT TRIỂN THỦY LỢI MIỀN HẬU GIANG
Giai đoạn 1875 – 1930 cho thấy vùng ĐBSCL đã trở thành một vùng trọng điểm xuất cảng gạo ra thế giới, lượng gạo xuất tăng nhanh. Đến cuối thế kỷ XIX, mỗi năm vùng này đã xuất cảng khoảng nửa triệu tấn gạo (1896), đến năm 1930 lượng gạo xuất cảng đã lên đến xấp xỉ 1,5 triệu tấn. đặc biệt sau khi kinh xáng Xà No hoàn tất (Hình 5). Số liệu cho thấy diện tích canh tác lúa đã gia tăng từ 3.210.800 ha năm 1995 lên 3.861.200 ha năm 2005. Trong khi đó, sản lượng lúa đã gia tăng từ 12.831.700 tấn lên 19.298.500 tấn năm 2003 (Tổng cục thống kê, 2007). Nhìn trên bản đồ hiện trang vùng ĐBSCL (hình 6), hệ thống kinh rạch đã gần như bao phủ toàn bộ.
Hình 5: Lượng gạo xuất cảng ở ĐBSCL giai đoạn 1875 – 1930
(Nguồn số liệu: Pouyanne, 1930)

Hình 6: Bản đồ phát triển thủy lợi vùng ĐBSCL
(Nguồn: SIWRP, 2005)
Theo An (2002), mật độ kinh đào ở vùng ĐBSCL đã đạt ở mức 20 – 30 m/ha, chiếm 9% diện tích toàn vùng. Theo số liệu của Bộ Giao thông (Ministry of Transpotation, 1993), tổng số đường sông rạch ở ĐBSCL là 5.000 km, số liệu này ước tính đã gia tăng đến chừng 7.000 km vào năm 2002, trong đó có 4,430 km là các kinh chính có bề rộng từ 8 - 40 m và cao độ đáy là -2.0 m to -4.0 m dưới mực nước biển trung bình. Dù có nhiều ý kiến nhìn nhận khác nhau, một cách tổng quan không ai phủ nhận được vai trò to lớn của công tác thủy lợi trong việc phát triển nông nghiệp cho miền Hậu Giang nói riêng và cả vùng ĐBSCL nói chung.
4. TƯƠNG LAI MIỀN HẬU GIANG: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
Tiền nhân đã đổ nhiều máu, mồ hội và nước mắt để cho chúng ta có được miền đất quý báu này. Miền Hậu Giang trong tương lai vẫn phải mang trọng trách góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước. Việt Nam vẫn là một quốc gia nông nghiệp cho dù xu thế phát triển công nghiệp và dịch vụ sẽ gia tăng. Công tác thủy lợi mà chủ yếu là khai thác và bảo vệ tài nguyên nước không bao giờ có điểm dừng. Có nhiều cơ hội và thách thức cho phát triển khu vực, có thể kế ra như sau:
Cơ hội:
• Đội ngũ quản lý tài nguyên nước ở các Viện nghiên cứu, trường Đại học, Chi cục thủy lợi, … đã thật sự trưởng thành, có khá nhiều kinh nghiệm từ nhiều bài học thực tế.
• Nhiều phát minh và tiến bộ khoa học kỹ thuật đã và đang tiếp tục hỗ trợ trong công tác quan trắc, mô phỏng dòng chảy, thiết kế, và thi công cơ giới.
• Việc mở rộng quan hệ quốc tế giúp cho việc chia xẻ tri thức, kinh nghiệm và nguồn vối cho việc phát triển thủy lợi và dự báo kiểm soát thiên tai.
• Nhà nước vẫn tiếp tục đầu tư đáng kể cho các công trình thủy lợi.
Thách thức:
• Hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ là thách thức lớn nhất cho việc phát triển nông nghiệp và quản lý tài nguyên nước ở miền Hậu Giang nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung.
• Tình trạng gia tăng ô nhiễm nguồn nước, khai thác tận diệt tài nguyên (phá rừng, khai thác cát, tận diệt thủy sản, …) sẽ làm xấu đi nguồn nước.
• Các tác động tiêu cực bên ngoài như các nước thượng nguồn xây đập thủy điện, phát triển công nghiệp, dẫn nước qua lưu vực khác sẽ là một nguy cơ cho việc khai thác nguồn nước ở hạ nguồn.
• Đội ngũ kỹ thuât nông nghiệp và thủy lợi kế cận chưa đáp ứng về số và chất lượng.
Miền Hậu Giang được dự báo là sẽ tiếp tục phát triển dù có không ít khó khăn trong tương lai. Cần thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các nha làm chính sách, các nhà khoa học, các nhà doanh nghiệp và nông dân trong việc xác định chiến lược phát triển đúng đắn và điều hành hiệu quả cho một lợi ích chung và phát triển bền vững.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
An, N.T. (2002) Mekong Delta water quality and sustainable aquaculture development. Proceedings of the Workshop held in TraVinh, Vietnam, March 2002: Shrimp farming sustainability in the Mekong Delta, Environmental and Technical Approaches. IFREMER, France.
Biggs, D.A. (2004) Between the Rivers and Tides: A hydraulic history of the Mekong Delta (1820 - 1975). PhD. Thesis. Department of History, University of Washington, USA.
Ministry of Transportation (1993) Mekong Delta Master Plan, Rehabilitation and Improvement of the Main Waterways in the Mekong Delta. Feasibility Study, Volume 2: Main Report. Government of Vietnam, State Planning Committee, World Bank, Mekong Secretariat, United Nations Development Programme.
Pascal, B., (2005). Reflections on the notion of the “riverine civilization” and on the History of the Mekong delta seen through some aspects of the settlement of the Village of Sóc Sơn (1920-1945), Hội thảo “Water in Mainland Southeast Asia” được tổ chức bởi Center for Khmer Studies (Phnom Penh) and the International Institute for Asian Studies, Siem Reap, Cambodia.
Phan Khánh (2005). Nam Bộ: 300 năm làm thủy lợi. Nhà xuất bản Nông nghiệp, TP. HCM, Việt Nam.
Pouyanne, A. (1930). Fragages de Cochichine. Inspection général des travaux publics.
Sơn Nam (2004). Lịch sử khẩn hoang miền Nam. Bản gốc xuất bản năm 1973 tại Saigon. Nhà xuất bản Trẻ in lại 2004. TP.HCM, Việt Nam
SIWRP (2005). Quy hoạch Tổng hợp Phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Phân viện Quy hoạch thủy lợi Nam bộ, Tp. HCM, Việt Nam.
Tổng cục Thống kê (2007). Niên giám Thống kê 2006. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, Việt Nam.
The Netherlands Delta Development Team and the Committee for the Coordination of the Investigations of the Lower Mekong Basin (1974). Recommendations Concerning Agricultural Development with Improved Water Control in the Mekong Delta – Main Report. Committee for the Coordination of Investigations of the Lower Mekong Basin, Bangkok, Thailand.
Trịnh Hoài Đức (1963). Gia Định Thành thông chí. Bản dịch năm 1963 của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Download ngày 10/11/2009 từ website: http://namkyluctinh.org/a-sachsuvn/giadinhthanh-thongchi%5Bp1%5D.pdf
Tuấn, Lê Anh (2006). Đặc điểm chế độ khí tượng – thủy văn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Bài giảng Thủy văn, Đại học Cần Thơ, Cần Thơ, Việt Nam
Le Anh Tuan, Chu Thai Hoanh, Fiona Miller, and Bach Tan Sinh, 2008. Floods and Salinity Management in the Mekong Delta, Vietnam. In: Challenges to sustainable Development in the Mekong Delta: Regional and National Policy Issues and Research Needs, T.T. Be, B.T. Sinh and Fiona M. (Eds). The Sustainable Mekong Research Network (Sumernet)’s publication, Stockholm, Sweden.