Thứ bảy, ngày 19 tháng 04 năm 2014.
 
Tiếng Việt | English
Tổng quan Ban tổ chức Hội thảo - Hội thi Nhật ký Festival Đất & Người Hậu Giang Bên lề Festival Dịch vụ Nhà tài trợ Thư viện
Hội thảo ”Cây lúa Việt Nam”

Phát triển cây trồng thích nghi với biến đổi khí hậu


III. Phát triển sản xuất nhiều loại cây lương thực

Loại lương thực ăn hạt chủ yếu gồm lúa, ngô, lúa mì. Các loại lúa mạch, cao lương, kê, mạch 3 góc có được trồng, nhưng không đáng kể. Lúa nước hiện đang phải cáng đáng an ninh lương thực cho các nước nghèo, mà 90% người nghèo là nông dân, cũng chính là người trực tiếp sản xuất cho an ninh lương thực.

Các loài cây lương thực ăn củ phong phú hơn nhiều, lại thích nghi với nhiều điều kiện sinh thái hơn, nên tiềm năng phát triển còn rất lớn. Hai cây đứng đầu lương thực ăn củ là khoai lang và khoai tây, kế đến là các loại khoai môn, có loại sống chung với lũ được như khoai bông, khoai nước...

Củ sắn (củ mì) làm lương thực rất tốt, nhưng hiện nay cũng là cây làm xói mòn đất dữ dội nếu trồng ở đất dốc. GS Tôn Thất Trình vừa gửi về một thông tin ở Mỹ đã tạo được giống sắn bằng công nghệ di truyền làm tăng hàm lượng dinh dưỡng lên 5-7 lần. Còn nhiều loại cây lương thực ăn củ, ăn quả chứa nhiều tinh bột khác, như rong riềng, hoàng tinh, khoai thơm, khoai mỡ, hay các loại cây lương thực - lâm nghiệp sa kê, hạt dẻ, mít ăn hạt... Những cây này còn ở “vị thế tiềm năng”, cần được nghiên cứu phát triển.

IV. Vườn đồng bằng, vườn đồi, vườn rừng vùng núi và ven biển

1/ Phát triển vườn đồng bằng

Ở vùng đồng bằng, vườn thường nằm trong khuôn viên VAC của nông hộ trên nền đất tương đối cao hơn ruộng. Người nông dân lên bờ bao bảo vệ ở vùng trũng, nơi dễ bị ngập thì trồng cây tương đối chịu úng như chanh gai, vú sữa, xoài, chuối, bưởi..., cây nhát (sợ) nước chỉ trồng trên đất cao như mít, sầu riêng, đu đủ, na (mãng cầu ta)... Cây sống chung với úng có khoai nước, củ ấu, mãng cầu xiêm ghép vào gốc bình bát, rau muống, rau nhút...

Trong tập đoàn cây ăn củ có những cây sống chung với úng được như khoai bông, khoai nước..., có cây trồng bình thường dưới ruộng không ngập nước, và nhiều cây trồng tranh thủ ở bờ rào, dưới bóng râm vườn cây ăn trái, như khoai môn, rong riềng, hoàng tinh, sắn dây (cắt căn)... Đã có kinh nghiệm trồng khoai ụ, khoai sọ... có năng suất rất cao. Lương thực ăn củ chứa nhiều tinh bột, thay thế một phần gạo dành cho xuất khẩu, làm cho cơ cấu bữa ăn ngon lành hơn, văn minh hơn.

Vườn ở ĐBSCL còn là nơi giữ nước ngọt cho nông hộ dùng trong mùa khô, là những ao, mương kết hợp nuôi trồng thủy sản, hoặc đào giếng thơi lấy nước ngầm. Những “túi nước ngọt nhỏ” trong phạm vi nông hộ góp phần tích cực với những “túi nước ngọt lớn” ở vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, và Lung Ngọc Hoàng thuộc Hậu Giang, có tác dụng ngăn cản nước mặn xâm nhập. Túi nước ngọt lớn đang bị thu hẹp diện tích cho sản xuất vì lợi ích trước mắt.

Theo Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, mùa khô 2008 nước mặn xâm nhập sâu và lớn hơn trung bình nhiều năm. Thời gian và mức độ xâm nhập mặn như ở dọc sông Cổ Chiên tới 60-65 km vào tháng 4, tháng 5; nơi xâm nhập mặn sớm nhất vào tháng 3, tháng 4 ở dọc sông Trần Đề vào sâu trong nội địa 30-35 km. Năm 2009, tình trạng trên càng khắc nghiệt. Giá trị nước ngọt ở ta còn bị đánh giá thấp hơn giá trị thực rất nhiều.

2/ Phát triển vườn vùng trung du và miền núi

Nước ta còn có điều kiện “tuyệt vời” để né biển dâng nước ngập. Theo kiểm kê đất năm 2005, cả nước còn 4,3 triệu ha đất đồi núi chưa sử dụng. Với điều kiện này ta có thể phát triển nhiều loại cây công - nông - lâm nghiệp trong những điều kiện đất - nước khác nhau, lồng ghép với nhiều chương trình quốc gia đang được thực thi, nhất là với chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH. Tổ tiên ta đã từ vùng núi xuống đồng bằng. Khi biển lấn sâu vào đất liền, ta trở lại vùng cao, vẫn tiếp tục phát triển vì có sự chuẩn bị trước với bước đi thích hợp.

Có rất nhiều loài cây lâm nghiệp, cây công - lâm nghiệp (cao su, cây dừa, cây cọ dầu, cây cọc giậu..), cây nông - lâm nghiệp (cây ăn trái, cây sa kê, cây hạt dẻ...) thích ứng với nhiều loại đất vùng đồi núi.

Một trong những cây trên là cây cọc giậu có giống bản địa và giống nhập nội, (Jatropha curcas L.) thuộc loại cây công - lâm nghiệp, phát triển được hầu hết các đất xấu, nghèo kiệt, đất dốc bị rữa trôi, đất trơ sỏi đá, đất sa mạc hóa, bãi thải khai thác khoáng sản... Cây cọc giậu có thể sớm tạo thành thực bì dày đặc, làm tăng độ màu mỡ cho đất. Cọc giậu có thể đạt 8-10 tấn hạt/ha/năm, từ hạt sản xuất được 3 tấn diesel sinh học. Sau khi ép dầu còn 70% là khô dầu chứa khoảng 30% protein, làm phân hữu cơ tốt, khi khử hết độc tố làm thức ăn gia súc dinh dưỡng cao (Nguyễn Công Tạn, 2005).

Để tăng sức sản xuất của vùng có nhiều loại đất nghèo, vấn đề phủ đất chống xói mòn bằng cây họ đậu đỗ cần đặc biệt chú ý. Trong số cây họ đậu đỗ này, có cây lạc lưu niên (Arachis pintoi), được mang về nước từ nơi nguyên sản Nam Mỹ Braxin bởi Viện KHKT nông lâm miền núi phía Bắc, và đã chuyển giao vào sản xuất không chỉ ở miền núi phía Bắc, mà cả ở Tây Nguyên, và bắt đầu trồng thử ở 4 tỉnh Nam bộ, được gọi tên là lạc lá lưu niên. Có thể trồng cây này trên đất dốc, vùng đất có cốt từ 0 đến 1.500 m, đất có độ pH thấp, đất nghèo dinh dưỡng, chịu hạn, chịu úng nhẹ, đất cát ven biển...

3/ Phát triển vườn rừng ven biển

Cũng như rừng ở vùng đồi núi, rừng ngập mặn là hàng rào sinh thái giảm nhẹ tác hại thiên tai từ biển vào, hiện đang bị suy thoái nhanh. Khoa học công nghệ cần được nghiên cứu phát triển theo hướng vườn rừng để tăng thu nhập từ hệ thống canh tác nuôi trồng vùng cây chủ lực là cây rừng, nhằm ổn định và nâng cao đời sống cư dân nơi này.

Một thông tin về tuyến đê biển ngăn mặn ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cho hay: Năm 2002 được đắp cao hơn mặt nước biển 1,2-1,5 m dài 49 km có tác dụng ngăn mặn tốt. Tuy nhiên, đoạn đê 800 m tại xã Bình Sơn bị sóng dữ đánh vỡ toang vào tháng 10-2006. Nguyên nhân do rừng ngập mặn có bề dày 100 m ban đầu bị kẻ xấu chặt còn 20-30 m phòng hộ mong manh, không đủ ngăn sóng biển. Người dân ở đây cho biết, trồng 1 ha rừng mất khoảng 100 triệu đồng, vá lại đê tốn bạc tỉ.

V. Vấn đề bảo vệ thực vật khi khí hậu ngày một khắc nghiệt


Biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ làm cho điều kiện sản xuất khó khăn hơn, trong đó có vấn đề sâu bệnh phá hại cây trồng, nhất là cây lương thực thực phẩm cho an ninh lương thực, an sinh xã hội. Có thể có mấy vấn đề về bảo vệ thực vật như sau:

1/ Đối với những cây trồng truyền thống, nhất là cây lương thực mà lúa gạo đứng hàng đầu, sâu bệnh thường thích nghi với BĐKH nhanh hơn, tần suất xuất hiện dịch sẽ ngắn hơn và mức độ trầm trọng nặng hơn. Trong khi, thiên địch thích nghi với BĐKH chậm hơn, sự mất cân bằng tự nhiên sẽ mất theo hướng thiên địch yếu thế hơn. Nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL về đốt đồng sau thu hoạch cho thấy, sau đốt đồng, cả thiên địch lẫn rầy nâu và một số sâu khác đều chết, nhưng sâu hại phục hồi rất nhanh, còn thiên địch thì rất chậm.

2/ Trong từng vùng sinh thái khác nhau, có thể có một số sâu bệnh trước thuộc loại không nguy hiểm (minor pest), sẽ trở thành nguy hiểm (major pest), như ở Đồng bằng sông Hồng, rầy nâu và bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá năm nay xuất hiện trầm trọng hơn. Cũng loại trừ có thể có một số loại sâu bệnh mới.

3/ Hệ thống cây trồng, nhất là cây lương thực thực phẩm sẽ thay đổi để thích nghi và tăng sản lượng đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực trong điều kiện biển dâng làm chìm ngập nhiều đồng bằng màu mỡ, như Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng. Hướng nghiên cứu nông nghiệp thích nghi như đã trình bày ở trên, như rút ngắn chu kỳ sản xuất ở ruộng lúa bằng giống lúa cực sớm và làm mạ vỉ; như phát triển đa dạng cây lương thực thực phẩm, nhất là khai thác trung du và miền núi. Hoạt động BVTV cũng cần đón bắt trước tình hình này để có chiến lược nghiên cứu thích hợp.

4/ Một tập đoàn cây rừng cho sản lượng lương thực thực phẩm cần được nghiên cứu phát triển, trong đó có vấn đề BVTV cho những cây này. Ví dụ, cây sa kê ở Nam bộ, cây hạt dẻ, cây mắc ma ở trung du và miền núi, cây hồ đào ở vùng núi cao có khí hậu ôn đới. Theo một tài liệu của GS Tôn Thất Trình từ Mỹ gửi về cho thấy, ở đấy đã có những nghiên cứu này từ lâu, nhiều nghiên cứu áp dụng công nghệ sinh học tạo chọn giống hạt dẻ, mít ăn hạt, và chuyển nạp gen kháng bệnh cho những cây này.

VI. Kết luận và kiến nghị

1/ Nằm trong chiến lược quốc gia đối phó với BĐKH, ngành nông nghiệp cần có những đề tài/dự án phù hợp, vừa có tác dụng ngay, vừa đối phó với BĐKH đã và đang có ảnh hưởng xấu tới sản xuất lương thực nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung, theo hướng ngày càng phức tạp và xấu hơn.

2/ Nội dung nghiên cứu nông nghiệp thích nghi bao gồm các biện pháp né và sống chung an toàn với điều kiện bất lợi do BĐKH, như dùng giống lúa cực sớm, lúa cạn và cây lương thực ăn củ ở đất cao để né lũ, né hạn/mặn xâm nhập; lúa nước sâu và lúa nổi cùng rau củ thủy sinh để sống chung với nước ngập cho an ninh lương thực.

3/ Về khoa học công nghệ, cần có những đề tài nghiên cứu phát triển dài hạn, trước hết là về giống cây trồng và bảo vệ sản xuất trước biến động phức tạp của sâu bệnh khi thời tiết ngày một khắc nghiệt.

4/ Nghiên cứu triển khai bảo vệ thực vật khi cơ cấu cây trồng thay đổi để thích nghi với BĐKH .

GS-TS NGUYỄN VĂN LUẬT


Theo báo HG.

Quay lại     Thêm vào danh sách ưa thích     Gửi bạn bè     In ấn


  • CÁC TIN MỚI HƠN
  •  

  • Nhiều giải pháp phát triển cây lúa


  • CÁC TIN CŨ HƠN
  •  

  • Sản Xuất Lúa Gạo trong Chiến Lược An Ninh Lương Thực Quốc Gia và Hội nhập quốc tế
    Giải pháp phát triển sản xuất lúa gạo bền vững cho Hậu Giang và vùng Tây Sông Hậu
    Lịch sử cây lúa miền Trung và tình hình sản xuất lúa hiện nay ở miền Trung và Tây Nguyên...
    Lúa lai - 1 trong 3 tham luận chính tại Hội thảo “Cây lúa Việt Nam”
    Lúa gạo ở ĐBSCL với an ninh lương thực quốc gia.
    Hội Thảo ”Cây Lúa Việt Nam” - Hiệu quả từ các bài tham luận
    Tham luận: Sản xuất lúa gạo Việt Nam - thành tựu và thách thức
    Văn minh lúa nước - Nét đặc thù của nông nghiệp Việt Nam

    Các tin khác

     



    Sản Xuất Lúa Gạo trong Chiến Lược An Ninh Lương Thực Quốc Gia và Hội nhập quốc tế



    Văn minh lúa nước - Nét đặc thù của nông nghiệp Việt Nam



    Tham luận: Sản xuất lúa gạo Việt Nam - thành tựu và thách thức



    Lịch sử cây lúa miền Trung và tình hình sản xuất lúa hiện nay ở miền Trung và Tây Nguyên...



    Giải đua ghe ngo Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ I – Hậu Giang năm 2009



    Liên hoan Đờn ca Tài tử Nam Bộ tại Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ I – Năm 2009



    Chương trình Lễ hội ẩm thực & Tái hiện chợ nổi trên sông Festival lúa gạo Việt Nam 2009



    Nhiều giải pháp phát triển cây lúa



    Hội thảo “Lúa gạo Việt Nam xuất khẩu và hội nhập”



    Quyết định V/v thành lập Hội đồng giám khảo Cuộc thi ảnh nghệ thuật lúa gạo Việt Nam



    Thực đơn Ẩm thực Hậu Giang



    Chương trình khai mạc Lễ hội ẩm thực & Tái hiện chợ nổi trên sông


    Hỗ trợ














    VITV



    Trang chủ   |   Tổng quan   |   Ban tổ chức   |   Hội thảo - Hội thi   |   Nhật ký Festival   |   Đất & Người Hậu Giang   |   Bên lề Festival   |   Dịch vụ   |   Nhà tài trợ   |   Thư viện   |   Liên hệ
    © 2009 Festival Lúa Gạo Việt Nam
    Ghi rõ nguồn www.festivalluagao.vn khi phát hành thông tin từ website này
    Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ info@festivalluagao.vn
    Có 6 người đang truy cập. Tổng số lượt truy cập: 2.000.095